Vợ tôi (26 tuổi) bị viêm gan siêu vi B. Chúng tôi nghĩ đến kế hoạch sinh con nhưng được biết khi mang thai thì người phụ nữ phải ngưng sử dụng thuốc.
Như vậy chúng tôi nên chờ cho bệnh suy giảm rồi hãy có con hay tốt nhất nên sinh trước 30 tuổi? Khi sinh bé phải chuẩn bị như thế nào trong trường hợp này?
(Nick Palm, redchamelon@...)
Chào anh,
1. Theo như anh trình bày, vợ anh bị "nhiễm siêu vi viem gan B mãn tính" nhưng có bị viêm gan hay chưa thì không chắc vàcần phải làm thêm 1 số xét nghiệm. Anh nên đi khám và tư vấn với bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa gan mật để được theo dõi và xác định chính xác vợ anh có bị viêm gan mãn hay chưa.
2. Theo kinh nghiệm của tôi, ở vùng dịch tễ như Việt Nam và vợ anh còn trẻ, nên tôi dự đoán vợ anh chỉ bị nhiễm siêu vi viêm gan B mãn chứ chưa bị viêm gan mãn. Và nếu như vậy thì vợ anh chưa cần điều trị thuốc mà chỉ được khám bệnh và theo dõi định kỳ 3-6 tháng/lần. Nếu đúng như vậy thì vợ anh có thể có thai và sinh con bình thường. Chỉ có điều cần theo dõi với BS chuyên khoa tiêu hóa gan mật trong suốt thời gian mang thai để được xét nghiệm đánh giá chức năng gan, đồng thời đánh giá sự sinh sản và phát triển của siêu vi viêm gan B. Anh chị có thể phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con như sau:
- Ở 3 tháng cuối thai kỳ, bắt buộc phải khám và tư vấn với BS chuyên khoa tiêu hóa gan mật để được xét nghiệm theo dõi và quyết định dùng thuốc ngắn hạn để giảm lượng siêu vi trong máu, nhằm giảm khả năng lây cho thai khi chuyển dạ và sinh đẻ.
- Chủng ngừa với kháng thể thụ động (HBIg) đồng thời với tiêm liều vaccine phòng ngừa viêm gan siêu vi B đầu tiên trong vòng 12 giờ sau sinh. Sau đó tiếp tục tiêm ngừa vaccine viêm gan siêu vi B liều thứ 2 khi bé được 1-2 tháng tuổi và liều thứ 3 khi bé được 6 tháng tuổi.
-Vẫn cho trẻ bú mẹ bình thường nếu trẻ được chích ngừa đủ trừ phi đầu vú của mẹ bị nứt nẻ, lở loét dễ chảy máu.
3. Nếu vợ anh bị nhiễm siêu vi viêm gan B mãn và đã có viêm gan mãn thì cần được theo dõi và điều trị với BS chuyên khoa tiêu hóa gan mật cho đến khi bệnh ổn định thì có thể ngưng thuốc và có thai bình thường, nhưng trong khi mang thai có thể bệnh sẽ tái hoạt do virus viêm gan B tái hoạt động và phát triển. Do đó trong thời gian mang thai vợ anh cũng cần được theo dõi như những gì tôi đã đề cập ở mục 2.
10/10/2013
10/03/2013
Thuốc điều trị viêm gan B với phụ nữ mang thai
Viêm gan do virut viêm gan B (gọi tắt là viêm gan B) là một bệnh nhiễm trùng nặng và phổ biến, gây bệnh cho hàng triệu người trên khắp thế giới. Đại đa số các trường hợp mang virus viêm gan B (HBsAg dương tính) ở trẻ em là do lây truyền từ mẹ sang con. Vậy phải làm thế nào để ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm bệnh sang trẻ? Người mẹ có nên dùng thuốc điều trị bệnh khi mình đang mang thai? Đó chính là thắc mắc của hàng triệu người mẹ khi không may nhiễm virus viêm gan B khi mang bầu.
Virus viêm gan B dễ lây truyền từ mẹ sang con
Virus viêm gan B lây truyền chủ yếu qua đường máu, đường tình dục và mẹ truyền sang con. Đối với bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan B, đặc biệt ở những bà mẹ có cả HbsAg và HbeAg dương tính thì nguy cơ lây nhiễm sang trẻ lên tới 70 – 90%. Do đó việc phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm cho trẻ là rất quan trọng và cần thiết.
Có nên điều trị bệnh bằng thuốc ở phụ nữ mang thai?
Theo các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã, thuốc có ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, thai nhi và trong khi sinh nở. Đặc biệt đối với các bà mẹ mang thai có nhiễm virus viêm gan B cần phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi dùng thuốc. Trên thực tế phần lớn thuốc từ máu mẹ có thể thấm qua nhau thai vào máu thai gây hại cho thai trong tất cả các giai đoạn nhưng nguy hiểm nhất là 3 tháng đầu và sau đó 3 tháng cuối của thai kỳ. Do vậy khi mang thai tốt nhất là không dùng thuốc khi không cần thiết (kể cả những thuốc bổ gan).
Phụ nữ mang thai không nên dùng thuốc
Làm gì để phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm cho trẻ?
Một số phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ biết mình bị nhiễm virus viem gan B, trước hết cần đến gặp thầy thuốc chuyên khoa để được tư vấn, thông báo, theo dõi về tình trạng nhiễm virus của mình, các nguy cơ có thể xảy ra và đặc biệt tư vấn cho họ để phòng bệnh tích cực ngay sau khi sinh.
Những đứa trẻ được sinh ra từ người mẹ nhiễm virus viêm gan B cần được tiêm phòng vaccin viêm gan mũi đầu ngay trong vòng 12 giờ sau sinh và đủ 4 mũi trong năm đầu, phối hợp với gammaglobuline miễn dịch đặc hiệu chống virut viêm gan (Hbig) ngay sau sinh. Nếu không thì khả năng lây cho con cao và trẻ trở thành người mang HBsAg mạn tính là trên 90%, trong khi người lớn nếu bị nhiễm HBV thì trên 90% trường hợp cơ thể sẽ tự tiêu diệt sạch viruss sau giai đoạn cấp tính (trong vòng 6 tháng).
Việc chăm sóc người mẹ mang thai nhiễm viêm gan B trong giai đoạn này không có gì đặc biệt. Hàng quý phải theo dõi men gan (AST – ALT). Về thai cần theo dõi sự tiến triển của thai nghén và sự phát triển của thai nhi. Khi vì điều kiện bắt buộc phải dùng thuốc, kể cả với thuốc không nằm trong chế độ bắt buộc kê đơn cũng phải có sự chỉ định của thầy thuốc, không nên tự ý dùng. Người bệnh có thể dùng phương pháp chườm lạnh, uống nhiều nước và tham khảo ý kiến của thầy thuốc. Trong trường hợp khi xét nghiệm men gan tăng cần nghỉ ngơi, tránh hoạt động mạnh, chế độ ăn uống tăng hoa quả, tăng đạm, hạn chế mỡ. Đặc biệt cần khám, trao đổi với thầy thuốc chuyên khoa gan mật, chuyên khoa sản để có sự theo dõi, điều trị thích hợp phòng tránh các biến chứng xảy ra trong quá trình mang thai hoặc khi sinh.
Viêm gan B là căn bệnh nguy hiểm do đó việc phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm bệnh cho trẻ là rất cần thiết. Các bà mẹ bị viêm gan B cần hết sức lưu ý, hiểu về căn bệnh viêm gan B và sự lây nhiễm của nó để có các biện pháp phòng ngừa tốt nhất cho con. Đó là lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
Virus viêm gan B dễ lây truyền từ mẹ sang con
Virus viêm gan B lây truyền chủ yếu qua đường máu, đường tình dục và mẹ truyền sang con. Đối với bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan B, đặc biệt ở những bà mẹ có cả HbsAg và HbeAg dương tính thì nguy cơ lây nhiễm sang trẻ lên tới 70 – 90%. Do đó việc phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm cho trẻ là rất quan trọng và cần thiết.
Có nên điều trị bệnh bằng thuốc ở phụ nữ mang thai?
Theo các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã, thuốc có ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, thai nhi và trong khi sinh nở. Đặc biệt đối với các bà mẹ mang thai có nhiễm virus viêm gan B cần phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi dùng thuốc. Trên thực tế phần lớn thuốc từ máu mẹ có thể thấm qua nhau thai vào máu thai gây hại cho thai trong tất cả các giai đoạn nhưng nguy hiểm nhất là 3 tháng đầu và sau đó 3 tháng cuối của thai kỳ. Do vậy khi mang thai tốt nhất là không dùng thuốc khi không cần thiết (kể cả những thuốc bổ gan).
Phụ nữ mang thai không nên dùng thuốc
Làm gì để phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm cho trẻ?
Một số phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ biết mình bị nhiễm virus viem gan B, trước hết cần đến gặp thầy thuốc chuyên khoa để được tư vấn, thông báo, theo dõi về tình trạng nhiễm virus của mình, các nguy cơ có thể xảy ra và đặc biệt tư vấn cho họ để phòng bệnh tích cực ngay sau khi sinh.
Những đứa trẻ được sinh ra từ người mẹ nhiễm virus viêm gan B cần được tiêm phòng vaccin viêm gan mũi đầu ngay trong vòng 12 giờ sau sinh và đủ 4 mũi trong năm đầu, phối hợp với gammaglobuline miễn dịch đặc hiệu chống virut viêm gan (Hbig) ngay sau sinh. Nếu không thì khả năng lây cho con cao và trẻ trở thành người mang HBsAg mạn tính là trên 90%, trong khi người lớn nếu bị nhiễm HBV thì trên 90% trường hợp cơ thể sẽ tự tiêu diệt sạch viruss sau giai đoạn cấp tính (trong vòng 6 tháng).
Việc chăm sóc người mẹ mang thai nhiễm viêm gan B trong giai đoạn này không có gì đặc biệt. Hàng quý phải theo dõi men gan (AST – ALT). Về thai cần theo dõi sự tiến triển của thai nghén và sự phát triển của thai nhi. Khi vì điều kiện bắt buộc phải dùng thuốc, kể cả với thuốc không nằm trong chế độ bắt buộc kê đơn cũng phải có sự chỉ định của thầy thuốc, không nên tự ý dùng. Người bệnh có thể dùng phương pháp chườm lạnh, uống nhiều nước và tham khảo ý kiến của thầy thuốc. Trong trường hợp khi xét nghiệm men gan tăng cần nghỉ ngơi, tránh hoạt động mạnh, chế độ ăn uống tăng hoa quả, tăng đạm, hạn chế mỡ. Đặc biệt cần khám, trao đổi với thầy thuốc chuyên khoa gan mật, chuyên khoa sản để có sự theo dõi, điều trị thích hợp phòng tránh các biến chứng xảy ra trong quá trình mang thai hoặc khi sinh.
Viêm gan B là căn bệnh nguy hiểm do đó việc phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm bệnh cho trẻ là rất cần thiết. Các bà mẹ bị viêm gan B cần hết sức lưu ý, hiểu về căn bệnh viêm gan B và sự lây nhiễm của nó để có các biện pháp phòng ngừa tốt nhất cho con. Đó là lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
10/02/2013
Những triệu chứng nhiễm viêm gan siêu vi B
Tôi năm nay 33 tuổi (nam), chưa lập gia đình. Cách đây 3 tháng tôi khám sức khỏe định kỳ và xét nghiệm máu, kết quả dương tinh với virus viem gan B. Trước đó 1 năm thì tôi âm tính với loại virus này.
Xin hỏi các triệu chứng và diễn biến của bệnh này như thế nào? Các giai đoạn tiến triển của bệnh ra sao và biểu hiện của từng giai đoạn đó đến sức khỏe người nhiễm? Nếu đã dương tính với virus viêm gan B, sau thời gian dùng thuốc điều trị mà xét nghiệm lại âm tính với loại virus này và tiêm ngừa viêm gan B thì có đạt hiệu quả phòng ngừa không? Khang Tran (trankhang_09@...)
Trả lời:
Chào bạn Khang Tran!
Thông tin của bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi không thể trả lời cụ thể về khả năng khỏi bệnh cũng như sau này bạn có tiêm ngừa viêm gan siêu vi B được không.
Tôi xin trả lời một cách chung chung như thế này: Nhiễm benh viem gan sieu vi B được phân thành 2 dạng: cấp tính và mãn tính.
Nhiễm siêu vi viêm gan B cấp tính: HbsAg(+) dưới 6 tháng
- Triệu chứng lâm sàng thường rất rầm rộ, người bệnh dễ dàng nhận ra như: sốt nhẹ, mệt mỏi, biếng ăn, đầy bụng, buồn nôn, nôn ói, đau tức vùng thượng, hạ sườn phải, tiểu vàng, vàng da, vàng kết mạc mắt.
- Xét nghiệm máu: men gan: ALT(hay SGPT) và AST (hay SGPT) tăng rất cao (trên 10 lần giá trị bình thường, có khi đến > 1000 IU/ml), Bilirubin trong máu tăng cao gây vàng da, HBsAg(+), antiHBcIgM(+), antiHBcIgG(+).
- Tiến triển: bệnh kéo dài không quá 6 tháng. Khoảng 1% viêm gan B cấp có tiến triển nặng và có nguy hiểm tính mạng. Nếu nhiễm ở tuổi trưởng thành thì 90% tự khỏi bệnh (tức là xét nghiệm HbsAg âm tính), 10% chuyển sang nhiễm mãn tính.
Nhiễm siêu vi viêm gan B mãn tính: HbsAg(+) trên 6 tháng
- Triệu chứng lâm sàng: phần lớn không có triệu chứng rõ rệt, chỉ một số ít thấy mệt mỏi, biếng ăn, ngứa da, đau nhẹ dưới sườn phải.
- Xét nghiệm: HbsAg(+), antiHBc IgG(+), antiHBcIgM(-), HbeAg (âm hoặc dương tính), aniHBe (âm hoặc dương tính), HBVDNA (âm hoặc dương), ALT, AST, Bilirubin. Ngoài ra để đánh giá chức năng gan cần làm thêm xét nghiệm: Albumin, INR, AFP, siêu âm bụng cần thiết để đánh giá mức độ xơ hóa ở gan cũng như tầm soát ung thư gan.
- Tiến triển: HbsAg có khi tồn tại suốt đời. Khoảng 20-30% có nguy cơ tiến triển xơ gan và ung thư gan trung bình 30 năm. Các thuốc uống chỉ có tác dụng ức chế siêu vi B chứ không làm mất được HbsAg. Một số thuốc có thể làm mất HbsAg sau 12 tháng điều trị là 5% và có thể chích ngừa viêm gan B sau đó.
Trường hợp của bạn nếu 1 năm trước có xét nghiệm đầy đủ về siêu vi B không bị nhiễm, nay xét nghiệm bị nhiễm thì có thể nhiễm gần đây. Bạn có thể đến bác sĩ chuyên khoa gan để đánh giá đầy đủ và hướng dẫn cụ thể cho bạn cách theo dõi và điều trị tốt hơn.
Chúc bạn khỏe!
Xin hỏi các triệu chứng và diễn biến của bệnh này như thế nào? Các giai đoạn tiến triển của bệnh ra sao và biểu hiện của từng giai đoạn đó đến sức khỏe người nhiễm? Nếu đã dương tính với virus viêm gan B, sau thời gian dùng thuốc điều trị mà xét nghiệm lại âm tính với loại virus này và tiêm ngừa viêm gan B thì có đạt hiệu quả phòng ngừa không? Khang Tran (trankhang_09@...)
Trả lời:
Chào bạn Khang Tran!
Thông tin của bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi không thể trả lời cụ thể về khả năng khỏi bệnh cũng như sau này bạn có tiêm ngừa viêm gan siêu vi B được không.
Tôi xin trả lời một cách chung chung như thế này: Nhiễm benh viem gan sieu vi B được phân thành 2 dạng: cấp tính và mãn tính.
Nhiễm siêu vi viêm gan B cấp tính: HbsAg(+) dưới 6 tháng
- Triệu chứng lâm sàng thường rất rầm rộ, người bệnh dễ dàng nhận ra như: sốt nhẹ, mệt mỏi, biếng ăn, đầy bụng, buồn nôn, nôn ói, đau tức vùng thượng, hạ sườn phải, tiểu vàng, vàng da, vàng kết mạc mắt.
- Xét nghiệm máu: men gan: ALT(hay SGPT) và AST (hay SGPT) tăng rất cao (trên 10 lần giá trị bình thường, có khi đến > 1000 IU/ml), Bilirubin trong máu tăng cao gây vàng da, HBsAg(+), antiHBcIgM(+), antiHBcIgG(+).
- Tiến triển: bệnh kéo dài không quá 6 tháng. Khoảng 1% viêm gan B cấp có tiến triển nặng và có nguy hiểm tính mạng. Nếu nhiễm ở tuổi trưởng thành thì 90% tự khỏi bệnh (tức là xét nghiệm HbsAg âm tính), 10% chuyển sang nhiễm mãn tính.
Nhiễm siêu vi viêm gan B mãn tính: HbsAg(+) trên 6 tháng
- Triệu chứng lâm sàng: phần lớn không có triệu chứng rõ rệt, chỉ một số ít thấy mệt mỏi, biếng ăn, ngứa da, đau nhẹ dưới sườn phải.
- Xét nghiệm: HbsAg(+), antiHBc IgG(+), antiHBcIgM(-), HbeAg (âm hoặc dương tính), aniHBe (âm hoặc dương tính), HBVDNA (âm hoặc dương), ALT, AST, Bilirubin. Ngoài ra để đánh giá chức năng gan cần làm thêm xét nghiệm: Albumin, INR, AFP, siêu âm bụng cần thiết để đánh giá mức độ xơ hóa ở gan cũng như tầm soát ung thư gan.
- Tiến triển: HbsAg có khi tồn tại suốt đời. Khoảng 20-30% có nguy cơ tiến triển xơ gan và ung thư gan trung bình 30 năm. Các thuốc uống chỉ có tác dụng ức chế siêu vi B chứ không làm mất được HbsAg. Một số thuốc có thể làm mất HbsAg sau 12 tháng điều trị là 5% và có thể chích ngừa viêm gan B sau đó.
Trường hợp của bạn nếu 1 năm trước có xét nghiệm đầy đủ về siêu vi B không bị nhiễm, nay xét nghiệm bị nhiễm thì có thể nhiễm gần đây. Bạn có thể đến bác sĩ chuyên khoa gan để đánh giá đầy đủ và hướng dẫn cụ thể cho bạn cách theo dõi và điều trị tốt hơn.
Chúc bạn khỏe!
10/01/2013
Bệnh nhân viem gan B có cần phải kiêng khem nhiều?
Bệnh nhân viem gan B có cần phải kiêng khem nhiều?
Khi bị viêm gan B mạn tính, đa số các bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt, họ vẫn cảm thấy bình thường mặc dù gan có thể đã bị hư hoại ngày một nặng hơn. Một số bệnh nhân có cảm giác mệt mỏi và ăn uống kém đi. Chế độ ăn vẫn phải cân đối giữa các chất đường, đạm, béo và cung cấp đầy đủ năng lượng. Việc ăn uống đủ chất và năng lượng sẽ giúp bệnh nhân cảm thấy khoẻ hơn, cơ thể có đủ sức chống chọi với tình trạng nhiễm trùng cũng như các tác dụng phụ do điều trị gây ra. Khi vẫn còn cảm giác ăn uống và tiêu hoá bình thường, nhất là chưa bị sưng phù, bệnh nhân không cần thiết phải kiêng ăn quá mức.
Chính vì ăn kiêng quá mức, nhất là thức ăn quá nhạt nhẽo sẽ làm bệnh nhân cảm thấy chán ăn. Ăn uống kém càng làm cho người bệnh mệt mỏi, thiếu sức hoạt động và bệnh gan bị nặng hơn.
Người bệnh nên ăn gì?
Protein (chất đạm): Là chất vô cùng quan trọng đối với người bệnh về gan nói chung và viêm gan B nói riêng. Cần bảo đảm 1g protein/kg cơ thể/ngày, trong đó 50% lượng protein này do ngũ cốc và rau quả cung cấp nên chỉ còn 50% là lấy từ thực phẩm như cá, thịt, trứng, sữa hoặc đạm thực vật như: đậu phụ... có nghĩa một ngày chỉ cần 200g cá hoặc 100g thịt nạc, trứng và cốc sữa là đủ.
Protein từ cá và sữa bò rất tốt cho người viêm gan B vì dễ tiêu hóa. Trong sữa bò tươi hoặc sữa bột pha tương ứng có khoảng 3,7% chất đạm và 3,5% chất béo. Chất béo trong sữa bò thuộc loại khó tiêu hóa nên người ta thường khuyên người yếu gan không nên uống nhiều sữa chứ không phải là kiêng sữa (mỗi ngày nên uống 1 cốc).
Chất béo: Người bệnh viêm gan B cần giảm các chất béo, kiêng ăn các món rán, chứ không phải kiêng hẳn chất béo.
Bệnh nhân benh gan B nên kiêng đồ ăn nhiều dầu mỡ
Vitamin và khoáng chất: Các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho bệnh nhân viêm gan B. Mỗi ngày cần bảo đảm đủ rau quả tươi (rau xanh 200g + củ quả non 1.000g + quả chín tươi 200g). Trường hợp người già yếu không thể ăn đủ sinh tố qua rau quả thì có thể uống thêm mỗi ngày 1 viên đa sinh tố B complex hoặc viên đa sinh tố khoáng chất.
Những thứ người bệnh nên tránh là: Các thức uống có chất cồn (rượu, bia...), thuốc lá, tránh ăn thực phẩm ôi thiu, nhiễm hóa chất, tránh lao động quá sức.
Người bệnh cần chú ý ăn uống hợp lý, không được ăn dư thừa hoặc đưa các chất độc hại vào cơ thể. Nguyên tắc ăn uống hằng ngày là chọn thức ăn dễ tiêu và không kiêng quá mức sẽ dẫn đến suy kiệt cơ thể. Đó chính là lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
Khi bị viêm gan B mạn tính, đa số các bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt, họ vẫn cảm thấy bình thường mặc dù gan có thể đã bị hư hoại ngày một nặng hơn. Một số bệnh nhân có cảm giác mệt mỏi và ăn uống kém đi. Chế độ ăn vẫn phải cân đối giữa các chất đường, đạm, béo và cung cấp đầy đủ năng lượng. Việc ăn uống đủ chất và năng lượng sẽ giúp bệnh nhân cảm thấy khoẻ hơn, cơ thể có đủ sức chống chọi với tình trạng nhiễm trùng cũng như các tác dụng phụ do điều trị gây ra. Khi vẫn còn cảm giác ăn uống và tiêu hoá bình thường, nhất là chưa bị sưng phù, bệnh nhân không cần thiết phải kiêng ăn quá mức.
Chính vì ăn kiêng quá mức, nhất là thức ăn quá nhạt nhẽo sẽ làm bệnh nhân cảm thấy chán ăn. Ăn uống kém càng làm cho người bệnh mệt mỏi, thiếu sức hoạt động và bệnh gan bị nặng hơn.
Người bệnh nên ăn gì?
Protein (chất đạm): Là chất vô cùng quan trọng đối với người bệnh về gan nói chung và viêm gan B nói riêng. Cần bảo đảm 1g protein/kg cơ thể/ngày, trong đó 50% lượng protein này do ngũ cốc và rau quả cung cấp nên chỉ còn 50% là lấy từ thực phẩm như cá, thịt, trứng, sữa hoặc đạm thực vật như: đậu phụ... có nghĩa một ngày chỉ cần 200g cá hoặc 100g thịt nạc, trứng và cốc sữa là đủ.
Protein từ cá và sữa bò rất tốt cho người viêm gan B vì dễ tiêu hóa. Trong sữa bò tươi hoặc sữa bột pha tương ứng có khoảng 3,7% chất đạm và 3,5% chất béo. Chất béo trong sữa bò thuộc loại khó tiêu hóa nên người ta thường khuyên người yếu gan không nên uống nhiều sữa chứ không phải là kiêng sữa (mỗi ngày nên uống 1 cốc).
Chất béo: Người bệnh viêm gan B cần giảm các chất béo, kiêng ăn các món rán, chứ không phải kiêng hẳn chất béo.
Bệnh nhân benh gan B nên kiêng đồ ăn nhiều dầu mỡ
Vitamin và khoáng chất: Các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho bệnh nhân viêm gan B. Mỗi ngày cần bảo đảm đủ rau quả tươi (rau xanh 200g + củ quả non 1.000g + quả chín tươi 200g). Trường hợp người già yếu không thể ăn đủ sinh tố qua rau quả thì có thể uống thêm mỗi ngày 1 viên đa sinh tố B complex hoặc viên đa sinh tố khoáng chất.
Những thứ người bệnh nên tránh là: Các thức uống có chất cồn (rượu, bia...), thuốc lá, tránh ăn thực phẩm ôi thiu, nhiễm hóa chất, tránh lao động quá sức.
Người bệnh cần chú ý ăn uống hợp lý, không được ăn dư thừa hoặc đưa các chất độc hại vào cơ thể. Nguyên tắc ăn uống hằng ngày là chọn thức ăn dễ tiêu và không kiêng quá mức sẽ dẫn đến suy kiệt cơ thể. Đó chính là lời khuyên của các bác sĩ phòng khám chuyên gan 12 Kim Mã.
Subscribe to:
Posts (Atom)