4/03/2013

Điều trị gan nhiễm mỡ đúng cách


Gan nhiễm mỡ (GNM) là khi lượng mỡ tích tụ trong gan chiếm quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ thường kết hợp với các bệnh rối loạn chuyển hóa như tiểu đường, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu… Gan nhiễm mỡ có thể thấy ở bất kỳ những ai có lối sống thiếu vận động và ăn uống bất hợp lý, quá thừa năng lượng. gan nhiễm mỡ ở hầu hết các trường hợp chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan. Tuy nhiên, 20% gan nhiễm mỡ có thể diễn tiến đến xơ gan.
Nguyên nhân gây gan nhiem mo
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng gan nhiễm mỡ như suy dinh dưỡng, điều trị giảm cân, sử dụng một số loại thuốc amiodarone, methotrexate, diltiazem,  tetracycline, thuốc  kháng virut, glucocorticoids, tamoxifen…; Các bệnh đường ruột, nhiễm HIV, viêm gan C. gan nhiễm mỡ được coi là một căn bệnh xảy ra trên toàn thế giới và gặp ở đa số những người uống quá nhiều rượu và những người béo phì.
Dấu hiệu nhận biết gan nhiễm mỡ
Hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng và thường được phát hiện tình cờ bởi vì các xét nghiệm chức năng gan bất thường hoặc gan to hoặc siêu âm gan khi khám sức khỏe định kỳ.
Qua kết quả sinh thiết gan cho thấy có 3 loại gan nhiễm mỡ:
Gan thoái hóa mỡ đơn thuần: gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, không kèm theo tình trạng viêm gan.
Bệnh gan thoái hóa mỡ do rượu: ngoài tình trạng gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, kèm theo tình trạng viêm gan, mô gan có thể bị sẹo hoặc bị xơ và tiền sử uống rượu nhiều.
Viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu: kết quả sinh thiết giống loại trên, nhưng không có tiền sử uống rượu (hoặc uống rượu không đáng kể).
Việc điều trị gan nhiễm mỡ phụ thuộc vào nguyên nhân của nó và nói chung, dieu tri gan nhiem mo sẽ phục hồi nếu được thực hiện ở giai đoạn sớm.
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định trong dieu tri gan nhiem mo
Ngoài việc dùng một số thuốc bảo vệ gan thì chế độ dinh dưỡng và lối sống lành mạnh sẽ đóng một vai trò quan trọng đặc biệt giúp phòng ngừa và điều trị gan nhiễm mỡ.
Trong dinh dưỡng dieu tri gan nhiem mo, việc đầu tiên người bệnh cần phải thực hiện là:
Kiểm soát lượng carbohydrate (đường bột) ăn vào hàng ngày: nên tránh các loại thực phẩm, đồ uống chứa đường tinh chế, các loại bột ngũ cốc tinh chế. Sự lựa chọn tốt hơn là các loại ngũ cốc giàu chất xơ, các loại đậu, rau quả các loại.
Kiểm soát lượng chất béo ăn vào hàng ngày: loại bỏ hoàn toàn chất béo bão hòa (các loại mỡ động vật, trừ mỡ cá biển), sử dụng chất béo không bão hòa là các loại dầu thực vật như dầu ôliu, đậu lạc, dầu hướng dương…
Các loại trái cây và rau củ với nhiều màu sắc phong phú tốt cho người bị bệnh gan nhiễm mỡ (ảnh minh họa).
Sử dụng các chất chống ôxy hóa để đóng góp cho sức khỏe của tế bào gan: đó là các loại trái cây và rau củ với nhiều màu sắc phong phú.
Mỗi một người trưởng thành bị gan nhiễm mỡ kèm theo thừa cân béo phì thì mức tiêu thụ năng lượng trong một ngày chỉ nên từ 1.300 - 1.400 Kcal.
Cụ thể: lượng thịt, cá hàng ngày khoảng 150 - 200gr; lượng tinh bột: 300gr; dầu thực vật: 20 - 30gr.

dieu tri gan nhiem mo


Kiêng rượu, bia, thuốc lá.
Ngoài ra, nên kết hợp với tập thể dục đều đặn vừa sức tối thiểu 30 phút mỗi ngày. Tập ít nhất 5 ngày trong tuần.
Làm sao để phòng ngừa gan nhiễm mỡ?
Để tránh bị gan nhiễm mỡ, trước tiên, chúng ta cần có chế độ ăn hợp lý: ăn đa dạng, ăn chừng mực, ăn thực phẩm gần với thiên nhiên nhất; Vận động thể lực đều đặn, sống năng động nhằm duy trì cân nặng lý tưởng (nên biết chỉ số BMI của bản thân và BMI lý tưởng phù hợp để tự theo dõi tình trạng dư cân của bản thân); Hạn chế tối đa rượu bia; Cần tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc để tránh những thuốc gây độc cho gan; Kiểm tra đường huyết, cholesterol và triglyceride máu định kỳ mỗi 6 tháng (hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi cá nhân).
Tóm lại: bệnh nhân gan nhiễm mỡ nên trao đổi  với bác sĩ dinh dưỡng trước khi bắt đầu bất kỳ loại chế độ ăn uống mới hoặc chương trình tập luyện. Chú ý năng lượng cá nhân và chế độ ăn uống phụ thuộc vào tuổi tác, chiều cao, cân nặng hiện tại, mức độ hoạt động, giai đoạn của bệnh gan nhiễm mỡ và sự hiện diện của các điều kiện sức khỏe khác như mắc các bệnh khác như: tiểu đường, cholesterol cao...

Tìm hiểu thông tin trước khi chữa viêm gan siêu vi


Viêm gan siêu vi thường tiến triển âm thầm và chỉ được phát hiện khi xét nghiệm vì thế nghe nói đến viêm gan siêu vi, nhiều người hoảng sợ vì liên tưởng đến những biến chứng của nó như xơ gan, ung thư gan.
Khi biết mình nhiễm vi rút viêm gan, người ta thường tìm mọi cách chữa trị nhưng không phải bệnh nhân nào cũng được thông tin đầy đủ, chính xác về chi phí, lợi ích, tác dụng phụ… trước khi bắt đầu quá trình điều trị.
Khái niệm viem gan sieu vi thể hoạt động và không hoạt động chỉ dùng trong VGSV B. Một người khi bị nhiễm VGB, khi xét nghiệm thấy men gan bình thường, nồng độ virus thấp hoặc âm tính, siêu âm gan bình thường thì coi như là thể không hoạt động và không cần điều trị gì chỉ theo dõi men gan mỗi 3-6 tháng (rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bệnh nhân này ít có nguy cơ bị xơ gan và ung thư gan và điều trị ở những bệnh nhân này hoàn toàn không có lợi mà còn tăng tỷ lệ kháng thuốc). Còn nếu như bệnh nhân VGB làm xét nghiệm thấy men gan tăng cao không do các nguyên nhân khác như bia rượu, thuốc... (thường gấp đôi trị số bình thường), nồng độ vi rút tăng cao kéo dài trên 3 tháng, siêu âm gan thấy có hiện tượng xơ hóa thì đây là viêm gan siêu vi thể hoạt động, lúc này bệnh nhân cần được điều trị và theo dõi 1 cách nghiêm túc để hạn chế nguy cơ xơ gan và ung thư gan về sau.
Viêm gan siêu vi được điều trị như thế nào? Có thể điều trị ở bất kỳ giai đoạn nào?
VGSV B:
- Thường VGSV B có chỉ định điều trị trong giai đoạn hoạt động (Tiêu chuẩn điều trị VGSV B chưa xơ gan là nồng độ HBV DNA >20.000 IU/ml và ALT >2X ULN, ở bệnh nhân xơ gan là nồng độ HBV DNA >2000 IU/ml không kể ALT là bao nhiêu). Tuy nhiên tùy từng trường hợp cụ thể bác sĩ điều trị sẽ là người quyết định khi nào sẽ bắt đầu điều trị và phương pháp điều trị cụ thể.
VGSV C:
- Phác đồ điều trị viêm gan siêu vi C hiện nay là phối hợp peg-interferon và ribavirin, liều lượng và thời gian dùng tùy thuộc vào genotype và đáp ứng thuốc của bệnh nhân. Phác đồ này không áp dụng cho bệnh nhân bị xơ gan mất bù.
Cần phải làm các xét nghiệm nào trước khi bắt đầu điều trị?
Tùy theo phương pháp điều trị mà bác sĩ sẽ có những chỉ định xét nghiệm cần thiết.
Thông thường đối với viêm gan siêu vi B, ngoài các xét nghiệm tổng quát như công thức máu, đường huyết, chức năng gan-thận, siêu âm bụng và fibro scan, X quang tim phổi, sẽ có những xét nghiệm chuyên biệt như HBeAg, Anti HBe, định lượng HBsAg, định lượng HBV DNA, định type HBV. Còn đối với VGSV C thì ngoài các xét nghiệm tổng quát thì cần làm định lượng HCV RNA, định type HCV, xét nghiệm tuyến giáp, đo điện tim, siêu âm tim... nhằm phát hiện các bệnh kèm theo và điều trị chúng trước khi bắt đầu điều trị VGSV
Nhiều bệnh nhân thường sử dụng  các loại thuốc có tác dụng “mát gan”, “hạ men gan”, “bổ gan”... nhưng thật sự những loại thuốc đó có hiệu quả và phải dùng các loại thuốc đó như thế nào cho đúng?
Đây là một lối suy nghĩ rất thông thường và dễ hiểu của đại đa số bệnh nhân mắc bệnh gan. Tuy nhiên, cho đến nay, theo quan niệm tây y, vẫn chưa có thuốc nào được xem là thuốc ”bổ gan”. Một số loại thuốc có nguồn gốc dược thảo trên thị trường được giới thiệu có tác dụng bảo vệ và duy trì tế bào gan, làm giảm men gan. Tuy vậy chúng chỉ được xếp vào nhóm thực phẩm chức năng có tác dụng hỗ trợ chứ không thay thế thuốc chữa bệnh (do không phải trải qua những cuộc thử thách khó khăn như các loại thuốc tây khác). Khi dùng quý vị nên tuân thủ đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và cũng nên tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để tránh ”tiền mất, tật mang”.

Viêm gan siêu vi C có thực sự nguy hiểm


Mọi người thường ít quan tâm đến viêm gan siêu vi C (HCV) hơn so với viêm gan do siêu vi B (HBV), nhưng thực tế viêm gan siêu vi C nguy hiểm không kém viêm gan siêu vi B.
Một trong những đặc điểm quan trọng của nhiễm siêu vi C là đa số bệnh nhân không có khả năng tự loại trừ siêu vi ra khỏi cơ thể và họ sẽ trở thành người mang siêu vi C mãn tính. Trong số đó, 25% bệnh nhân có men gan bình thường, tình trạng tiến triển sang viêm gan mãn rất chậm và gan bị hư hại rất ít, họ được gọi là người "lành" mang siêu vi C.
Các bệnh nhân còn lại sẽ chuyển sang viêm gan C mãn tính.Do bệnh tiến triển chậm, đa số các bệnh nhân không có các triệu chứng gì trong suốt 20 năm sau khi bị nhiễm siêu vi C, cho nên gan bị hư hại ngày càng nhiều nhưng bệnh nhân lại không hề hay biết và dẫn đến xơ gan. Xơ gan sẽ xảy ra sớm hơn nếu như bệnh nhân uống rượu nhiều hay gan bị hư hại thêm do thuốc hay nhiễm thêm các siêu vi viêm gan khác như siêu vi B, D, HIV...
Bệnh viêm gan siêu vi C có giống bệnh viêm gan siêu vi A và B không?
Các siêu vi trùng A, B và C là những siêu vi có thể gây ra bệnh viêm gan, mỗi siêu vi lan truyền theo mỗi cách khác nhau. Đã có thuốc chủng ngừa cho bệnh viêm gan siêu vi A và B, tuy nhiên chưa có thuốc chủng ngừa cho bệnh viêm gan siêu vi C. Bạn có thể bị nhiễm các loại viêm gan siêu vi khác nhau cùng một lúc.
Làm thế nào để biết mình bị viêm gan siêu vi C?
Đa số những người bị nhiễm siêu vi C không hề hay biết mình bị bệnh vì phần lớn không có triệu chứng gì. Nếu có, triệu chứng cũng gần tương tự như một số bệnh khác ví dụ như mệt mỏi, chán ăn, rối loạn tiêu hóa, sụt cân hay đôi khi có đau tức vùng dưới sườn bên (P); rất ít trường hợp bệnh nhân có triệu chứng vàng da, vàng mắt. Một điều đáng lưu ý là không có sự liên quan rõ rệt giữa triệu chứng và mức độ nặng nhẹ của bệnh. Nói một cách khác, có những người than phiền rất nhiều triệu chứng nhưng mức độ viêm gan lại nhẹ; ngược lại có những người không cảm thấy có triệu chứng gì nhưng tình trạng viêm nhiễm ở gan lại đang tiến triển khá nhiều.
Những người nào cần tầm soát xem có nhiễm viem gan sieu vi C?
Trước tiên là những người đi hiến máu để đảm bảo các loại máu truyền cho người khác không gây nhiễm siêu vi C. Kế đến là những người đã từng được truyền máu và nhất là phải truyền máu nhiều lần như những người bị bệnh ưa chảy máu, chạy thận nhân tạo... Sau đó là những người chích xì ke - các đối tượng này không phải xét nghiệm tìm siêu vi C mà còn phải tìm cả siêu vi B, HIV... Ngoài ra, trẻ sơ sinh của những bà mẹ bị nhiễm siêu vi C, những người được mổ nhiều lần, châm cứu, xăm mình, các nhân viên y tế... cũng nên được làm xét nghiệm tìm siêu vi C.
Một điều đáng lưu ý rằng trong giai đoạn bệnh viêm gan C mãn tính, men gan có thể thay đổi bất thường: lúc tăng lúc giảm về trị số bình thường, cho nên khi thấy xét nghiệm men gan bình thường không có nghĩa là bệnh đã ổn định mà cần theo dõi men gan mỗi tháng, ít nhất là 3 lần liên tiếp mới đánh giá được tình trạng hư hại của gan.Hiện nay dù chưa có thuốc phòng ngừa viêm gan siêu vi C, nhưng bệnh nhân vẫn có khả năng được chữa khỏi bệnh nếu được chẩn đoán sớm, điều trị đúng chuyên khoa, kiên trì tuân thủ điều trị liên tục. Bệnh gan C mạn tính cần được phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt mới đạt hiệu quả và kịp thời ngăn ngừa diễn tiến sang xơ gan, ung thư gan.

Điều trị viêm gan ở Việt Nam

Điều trị viêm gan ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn vì người dân chưa ý thức được hết mối nguy hiểm từ căn bệnh gan này.
Bệnh viêm gan là một bệnh thường gặp ở Việt Nam. Tùy theo điều kiện bị mắc bệnh và thời gian kéo dài của bệnh mà người ta phân chia thành bệnh viêm gan cấp tính và bệnh viêm gan mãn tính. Mỗi thể bệnh có những đặc điểm riêng.
Thế nào là viêm gan cấp tính?
Bệnh phát sinh đột xuất và thời gian lâm bệnh ngắn - phần lớn người bị viêm gan cấp tính thường được phục hồi sau khoảng một đến hai tháng. Tuy vậy, có một số ít trường hợp kéo dài hàng nhiều tháng, thậm chí hàng năm hoặc phát triển tiến tới suy gan.
Nguyên nhân gây bệnh gan
Trên thế giới, nguyên nhân gây bệnh hay gặp nhất là do nhiễm khuẩn bởi một trong nhiều thể virus viêm gan. Mãi cho đến năm 1980 chỉ biết có hai virus benh viem gan A và viêm gan B - về sau xác định thêm một số virus viêm gan khác như C, D, E - Các virus vừa nêu đều có thể gây viêm gan cấp tính.
Ngoài ra, bệnh cũng có thể do vài vi khuẩn khác không phải là virus viêm gan gây nên - một vài loại ký sinh trùng cũng có thể gây nên viêm gan cấp tính. Bệnh còn có thể do một số yếu tố không phải là vi khuẩn gây nên như do dùng một số thuốc, chất độc như uống rượu nhiều và kéo dài. Bệnh viêm gan cấp tính còn có thể do một số virus khác gây ra, như: Cytomegalovimo và Epstein - Bar virus.
Nguyên nhân gây bệnh gan không do nhiễm khuẩn cần được chú ý:
Ở các nước phát triển, người ta uống rượu nhiều, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh viêm gan cấp hay gặp nhất. Ngoài ra có một số chất độc khác, một số thứ thuốc như thuốc chống co giật, thuốc tê, mê và như aceta- minophen liều quá cao đều có thể gây bệnh viêm gan cấp tính.
Triệu chứng bệnh:
Một số ít người bị bệnh không có triệu chứng rõ ràng hoặc triệu chứng quá nhẹ nên không phát hiện được bệnh.
Có thể có những triệu chứng như sau: Mệt mỏi, không thích ăn uống, buồn nôn, có khi bị nôn - sốt - cảm và thấy khó chịu ở vùng dưới sườn bên phải ổ bụng. Rồi sau nhiều ngày có thể xuất hiện vàng da, vàng mắt - Một số bệnh nhân bị viêm gan cấp do virus B có thể bị đau khớp, bị lú lẫn và hôn mê.
Chẩn đoán bệnh:
Bệnh nhân được xét nghiệm máu, nước tiểu để chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh và biết được chức năng gan bị ảnh hưởng như thế nào, từ đó có hướng điều trị phù hợp.
Phương pháp dieu tri viem gan
Hiện nay vẫn chưa có cách điều trị đặc hiệu đối với phần lớn các bệnh nhân viêm gan do virus. Chủ yếu cần nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng; Người bệnh nên cai rượu; Tránh để bệnh lây lan sang người khác. Đặc biệt, để tăng cường chức năng gan, người ta thường dùng các thuốc như: BEDIPA (thuốc uống)...
Bệnh nhân bị viêm gan cấp nếu được chữa trị và chăm sóc tốt sẽ giảm nhẹ dần sau 4-6 tuần và có thể phục hồi sau 3 tháng. Ngược lại, nếu không được quan tâm, chăm sóc tốt một số trường hợp có thể nặng dần, dẫn tới suy gan tiên lượng nặng.

GS. LÊ SĨ LIÊM
Báo Sức khỏe & Đời sống